Soạn bài CHUYỆN CỔ TÍCH VỀ LOÀI NGƯỜI soạn văn 6 tập 1 Trang 44 45 46 47 SGK Kết nối tri thức


Soạn bài CHUYỆN CỔ TÍCH VỀ LOÀI NGƯỜI soạn văn 6 tập 1 Trang 44 45 46 47 SGK Kết nối tri thức. Phần đáp án chuẩn, hướng dẫn giải chi tiết cho từng câu hỏi có trong chương trình học của sách giáo khoa. Captoc.vn mời các bạn đón xem:

* Trước khi đọc

Câu 1 (trang 47 sgk Ngữ văn lớp 6 Tập 1 - Kết nối tri thức với cuộc sống):

- Một số truyện kể về nguồn gốc loài người trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam hoặc văn học nước ngoài là: + Giê-hô-va sáng tạo ra con người (châu Âu) + Thần Pờ-rô-mê-tê sáng tạo ra con người (Hy Lạp) + Bản Cổ khai thiên lập địa và Nữ Oa sáng tạo con người (phương Đông), … - Các truyện có điểm kì lạ là đều giải thích nguồn gốc loài người do Trời sinh ra. Đó là cách giải thích mang màu sắc hoang đường, kì ảo.

Câu 2 (trang 47 sgk Ngữ văn lớp 6 Tập 1 - Kết nối tri thức với cuộc sống):

- Một số bài thơ viết về tình cảm gia đình như: LÀM ANH (Phan Thị Thanh Nhàn) Làm anh khó đấy Phải đâu chuyện đùa Với em gái bé Phải “người lớn” cơ. Khi em bé khóc Anh phải dỗ dành Nếu em bé ngã Anh nâng dịu dàng. Mẹ cho quà bánh Chia em phần hơn Có đồ chơi đẹp Cũng nhường em luôn. Làm anh thật khó Nhưng mà thật vui Ai yêu em bé Thì làm được thôi THƯƠNG ÔNG (Tú Mỡ) (Trích) Ông bị đau chân Nó sưng nó tấy Đi phải chống gậy Khập khiễng khập khà Bước lên thềm nhà Nhấc chân quá khó Thấy ông nhăn nhó Việt chơi ngoài sân Lon ton lại gần Âu yếm nhanh nhảu: - Ông vịn vai cháu Cháu đỡ ông lên! Ông bước lên thềm Trong lòng sung sướng Quẳng gậy cúi xuống Quên cả đớn đau Ôm cháu xoa đầu - Hoan hô thằng bé Bé thế mà khỏe Vì nó thương ông.

Soạn bài CHUYỆN CỔ TÍCH VỀ LOÀI NGƯỜI soạn văn 6 tập 1 Trang 44 45 46 47 SGK Kết nối tri thức

* Đọc văn bản

Gợi ý trả lời câu hỏi trong bài đọc:

1. Theo dõi: Số lượng tiếng trong một dòng thơ. - Một dòng thơ có 5 tiếng. 2. Hình dung: Hình ảnh trái đất khi trẻ con được sinh ra. + Trên trái đất trần trụi + Không dáng cây ngọn cỏ + Mặt trời cũng chưa có + Chỉ toàn là bóng đêm + Không khí chỉ màu đen Chưa có màu sắc khác. 3. Hình dung: Sự thay đổi của trái đất sau khi trẻ con được sinh ra qua miêu tả của nhà thơ. + mặt trời nhô cao. + màu xanh cỏ cây bắt đầu có + cây cao bằng gang tay + có lá cỏ và hoa + hoa có màu đỏ + chim bấy giờ sinh ra + có tiếng hót của chim trong và cao + có gió truyền âm thanh + có sông, có biển + biển sinh ý nghĩ, cá tôm, những cánh buồm + đám mây cho bóng rợp + có đường cho trẻ tập đi 4. Theo dõi: Các nhân vật, sự việc được kể trong bài thơ. - Các nhân vật: mẹ, bà, bố, thầy giáo - Các sự việc: + cái bống, cái bang + cái hoa + cánh cò + vị gừng + vết lấm + đầu nguồn cơn mưa + bãi sông cát vắng ,… 5. Hình dung: Sự chăm sóc, yêu thương của mẹ dành cho con. + mẹ cho con tình yêu và lời ru + mẹ bế bồng chăm sóc 6. Hình dung: Hình ảnh bà kể chuyện và thế giới trong những câu chuyện cổ bà kể. + Chuyện con cóc nàng tiên Chuyện cô Tấm ở hiền Thằng Lý Thông ở ác … + Mái tóc bà thì bạc Con mắt bà thì vui Bà kể đến suốt đời Cũng không sao hết chuyện. 7. Hình dung: Sự yêu thương, chăm sóc mà bố dành cho con. + Muốn cho trẻ hiểu biết Thế là bố sinh ra Bố bảo cho biết ngoan Bố dạy cho biết nghĩ 8. Hình dung: Khung cảnh mái trường thân yêu. + Có lớp, có bàn, có thầy giáo, có cái bảng bằng cái chiếu, cục phấn từ đá,…

* Sau khi đọc

Nội dung chính:

Bài thơ kể lại một cách sinh động về sự ra đời của loài người. Mọi thứ từ mặt trời, mẹ, bố, mặt bể, con đường, trường lớp,… đều sinh ra để phục vụ cho những nhu cầu của trẻ con. Qua đó bài thơ đã bộc lộ tình yêu mến đối với con người nhất là trẻ em. Trẻ em cần được yêu thương, chăm sóc, dạy dỗ. Hãy dành những gì tốt đẹp nhất cho tuổi thơ.

Gợi ý trả lời câu hỏi sau khi đọc:

Câu 1 (trang 47 sgk Ngữ văn lớp 6 Tập 1 - Kết nối tri thức với cuộc sống):

- Những căn cứ để xác định văn bản “Chuyện cổ tích về loài người là một bài thơ” là: + Mặc dù có yếu tố tự sự nhưng “Chuyện cổ tích về loài người” vẫn là một bài thơ vì nhà thơ chỉ mượn phương thức tự sự để bộc lộ cảm xúc, tình cảm yêu thương dành cho trẻ thơ. + Về hình thức: mỗi dòng thơ có 5 tiếng, các dòng được sắp xếp theo khổ và không giới hạn số lượng dòng trong một bài. + Bài thơ sử dụng vần chân ở hầu hết các dòng thơ, ví dụ: “Từ cánh cò rất trắng Từ vị gừng rất đắng Từ vết lấm chưa khô Từ đầu nguồn cơn mưa Từ bãi sông cát vắng…” + Mỗi dòng thơ đều được ngắt nhịp 3/2 hoặc 2/3, tạo âm điệu nhịp nhàng. Ví dụ: “Trời sinh ra/ trước nhất Chỉ toàn là/ trẻ con ….. Màu xanh/ bắt đầu cỏ Màu xanh/ bắt đầu cây”

Câu 2 (trang 47 sgk Ngữ văn lớp 6 Tập 1 - Kết nối tri thức với cuộc sống):

- Trong tưởng tượng của nhà thơ, thế giới đã biến đổi sau khi trẻ con ra đời là: + mặt trời nhô cao. + màu xanh cỏ cây bắt đầu có + cây cao bằng gang tay + có lá cỏ và hoa + hoa có màu đỏ + chim bấy giờ sinh ra + có tiếng hót của chim trong và cao + có gió truyền âm thanh + có sông, có biển + biển sinh ý nghĩ, cá tôm, những cánh buồm + đám mây cho bóng rợp + có đường cho trẻ tập đi → Theo cảm nhận của nhà thơ, mỗi sự thay đổi trên thế giới đều bắt nguồn từ sự sinh ra của trẻ con. Các sự vật, hiện tượng xuất hiện đều để nâng đỡ, nuôi dưỡng, góp phần giúp trẻ con trưởng thành cả về thể chất và tâm hồn.

Câu 3 (trang 47 sgk Ngữ văn lớp 6 Tập 1 - Kết nối tri thức với cuộc sống):

- Theo nhà thơ, món quà tình cảm mà chỉ có mẹ mới đem đến được cho trẻ thơ chính là tình yêu của mẹ. Tình yêu ấy thể hiện một cách bình dị mà cảm động qua sự chăm sóc ân cần và lời hát ru của mẹ. Mỗi hình ảnh trong lời hát ru của mẹ đều chứa đựng ý nghĩa sâu xa, gửi gắm những ước mong của me dành cho trẻ thơ. + Cái bống cái bang vốn chỉ những em bé ngoan, chăm chỉ trong bài ca dao: “Cái bống là cái bống bang Khéo sảy khéo sàng cho mẹ nấu cơm Mẹ bống đi chợ đường trơn Bống ra gánh đỡ chạy cơn mưa ròng” Nhắc đến cái bống, nhà thơ ngầm ý nhắc nhở các em hãy là những người con hiếu thảo, biết yêu thương, giúp đỡ cha mẹ. + Cánh cò gợi nhớ đến bài ca dao: “Con cò mà đi ăn đêm Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao Ông ơi ông vớt tôi nao Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng Có xáo thì xáo nước trong Đừng xáo nước đục đau lòng cò con.” Cánh cò trắng biểu tượng cho người nông dân vất vả, một nắng hai sương kiếm ăn mà vẫn quanh năm thiếu thốn. Tuy hoàn cảnh sống lam lũ, cực nhọc nhưng họ vẫn giữ tấm lòng trong sạch. + Vị gừng cay trong lời ru của mẹ gợi nhớ những câu ca dao: “Tay nâng chén muối đĩa gừng Gừng cay muối mặn, xin đừng quên nhau Muối ba năm muối đang còn mặn Gừng chín tháng gừng hãy còn cay Đôi ta nghĩa nặng tình dày Có xa nhau cũng phải ba vạn sáu ngàn ngày mới xa.” Người xưa đã mượn những đặc tính tự nhiên của gừng và muối để diễn tả tình nghĩa thủy chung, son sắt của con người. “Gừng càng già càng cay”, cũng giống như tình cảm yêu thương chân thành của con người sẽ càng trở nên mặn mà, đằm thắm qua thời gian. Bài ca dao nhắc nhở sự thủy chung trong tình vợ tình chồng. ð Những hình ảnh mẹ mang đến cho trẻ con qua lời ru chứa đựng những lời nhắn nhủ ân cần về cách sống đẹp: biết yêu thương, chia sẻ, nhân ái, thủy chung,… Đó chính là dòng sữa mát lành nuôi dưỡng tâm hồn trẻ thơ.

Câu 4 (trang 48 sgk Ngữ văn lớp 6 Tập 1 - Kết nối tri thức với cuộc sống):

- Những câu chuyện cổ tích và điều bà muốn gửi gắm qua những câu chuyện đó: + Tấm Cám, Thạch Sanh: Ước mơ về lẽ công bằng, người ở hiền sẽ gặp lành, ở ác sẽ bị quả báo. + Cóc kiện trời: Đoàn kết sẽ tạo nên sức mạnh. + Nàng tiên ốc, ba cô tiên: Lạc quan, tin tưởng vào những điều tốt đẹp. → Những câu chuyện cổ tích đó mang đến cho trẻ thơ những bài học về triết lí sống nhân hậu, ở hiền gặp lành; là suối nguồn trong trẻo nuôi dưỡng, bồi đắp tâm hồn trẻ thơ.

Câu 5 (trang 48 sgk Ngữ văn lớp 6 Tập 1 - Kết nối tri thức với cuộc sống):

- Những nét riêng trong tình cảm mà bố dành cho trẻ: + Nếu mẹ yêu thương trẻ, dành cho trẻ sự chăm sóc ân cần và lời ru ngọt ngào thì tình yêu của bố hiện qua sự truyền dạy những tri thức về thiên nhiên và cuộc sống. + Mẹ nuôi dưỡng cho trẻ trái tim ấm áp, yêu thương; Bà mang đến cho trẻ những bài học về triết lí sống nhân hậu, nuôi dưỡng và bồi đắp tâm hồn. Bố giúp trẻ trưởng thành về trí tuệ.

Câu 6 (trang 48 sgk Ngữ văn lớp 6 Tập 1 - Kết nối tri thức với cuộc sống):

- Mái trường hiện lên với những hình ảnh rất đỗi thân thương, bình dị như chữ viết, ghế, bàn, lớp học, bảng, phấn và thầy giáo. - Chính nơi này, người thầy cùng với những phương tiện dạy học đơn sơ đã mang đến cho trẻ thơ những bài học về đạo đức, tri thức, nuôi dưỡng những ước mơ đẹp, … giúp trẻ trưởng thành hơn.

Câu 7 (trang 43 sgk Ngữ văn lớp 6 Tập 1 - Kết nối tri thức với cuộc sống):

- Bài thơ có nhan đề: “Chuyện cổ tích về loài người” gợi cho người đọc những liên tưởng về những câu chuyện ưởng tượng về sự xuất hiện của loài người trong vũ trụ dưới hình thức cổ tích suy nguyên, giải thích nguồn gốc của loài người mang màu sắc hoang đường, kì ảo.

Câu 8 (trang 48 sgk Ngữ văn lớp 6 Tập 1 - Kết nối tri thức với cuộc sống):

- Bài thơ kể về nguồn gốc loài người với nhiều yếu tố hoang đường, kì ảo (giống như những truyện thần thoại và cổ tích) nhưng nhà thơ Xuân Quỳnh lại kể theo cách riêng: không phải người lớn mà là trẻ con được sinh ra trước nhất. Trẻ con chính là trung tâm của vũ trụ, vạn vật được sinh ra là vì trẻ em; những người thân như ông bà, bố mẹ được sinh ra là để che chở, yêu thương, nuôi dạy trẻ em khôn lớn thành người. - Sự khác biệt ấy thể hiện thông điệp nhà thơ muốn nhắn gửi: + Tới trẻ em: Hãy yêu thương những người thân trong gia đình bởi họ đã dành cho các em nhữn tình cảm tốt đẹp nhất. Tình cảm cần được thể hiện qua những lời nói, hành động, việc làm cụ thể, giản dị hàng ngày. + Tới các bậc làm cha mẹ: Hãy yêu thương, chăm sóc và dành cho trẻ em những điều tốt đẹp nhất bởi các em chính là tương lai của gia đình, đất nước. Các em cần được sống trong môi trường tốt đẹp, được yêu thương, chăm sóc, dạy dỗ để khôn lớn, trưởng thành.

* Viết kết nối với đọc

Bài tập (trang 48 sgk Ngữ văn lớp 6 Tập 1 - Kết nối tri thức với cuộc sống):

Viết đoạn văn (khoảng 5-7 câu) thể hiện cảm xúc của em về một đoạn thơ mà em yêu thích trong bài thơ “Chuyện cổ tích về loài người”. Gợi ý: - Lựa chọn đoạn thơ yêu thích, xác định nội dung chính, những yếu tố nghệ thuật nổi bật và cảm xúc của em khi đọc đoạn thơ đó. - Hướng dẫn viết: + Câu mở đầu cần giới thiệu được tên bài thơ, tên tác giả, nội dung đoạn thơ, cảm xúc chung của em về đoạn thơ. + Các câu tiếp theo thể hiện cảm xúc đối với các khía cạnh nội dung, nghệ thuật của đoạn thơ. Đoạn văn tham khảo: Lí giải về nguồn gốc của loài người cho trẻ em thật khó. Nhưng nữ sĩ Xuân Quỳnh đã có cách giải thích thật khéo léo, tinh tế và dễ hiểu với bài thơ “Chuyện cổ tích về loài người”. Và đây là một đoạn thơ đặc sắc: “Nhưng còn cần cho trẻ Tình yêu và lời ru Thế nên mẹ sinh ra Để bế bồng, chăm sóc Mẹ mang về tiếng hát Từ cái bống cái bang Từ cái hoa rất thơm Từ cánh cò rất trắng Từ vị gừng rất đắng Từ vết lấm chưa khô Từ đầu nguồn cơn mưa Từ bãi sông cát vắng…” Mở đầu đoạn thơ là sự có mặt của người mẹ trong thế giới. Khổ thơ như chia làm hai vế, vế đầu“Nhưng còn cần cho trẻ. Tình yêu và lời ru” là điều kiện cần, còn vế sau “Thế nên mẹ sinh ra. Đề bế bồng, chăm sóc” là kết quả thỏa mãn điều kiện đó. Lúc đầu trời sinh ra chỉ toàn là trẻ con, rồi mọi thứ dần dần ra đời để nuôi dưỡng bé. Và lí do mẹ có mặt trên đời cũng thật giản dị và ý nghĩa, vì có bé ở trên đời. Bé cần rất nhiều thứ để lớn khôn như mặt trời, cây cỏ, chim muông, sông suối, cá tôm... nhưng có lẽ hơn hết thảy bé cần tình yêu và lời ru. Từ “nhưng” đặt đầu câu nhằm nhấn mạnh sự quan trọng của hai yếu tố đó và lí giải sự xuất hiện của mẹ là điều tất yếu. Bởi bé là niềm vui, là nguồn hạnh phúc của mẹ. Bé cần có bàn tay dịu dàng vuốt ve, cần lời hát ru để lớn, cần sự dạy bảo để thành người. Mẹ xuất hiện là vì thế bé yêu ạ !
Bài trước
Bài sau

Chúng tôi luôn nỗ lực
để người dùng hạnh phúc hơn